VST – Bài 4: “Cảnh Sát” Bệnh Viện

17192416_10155030026645883_4381164568238921713_o

Trong bài trước chúng ta đã tìm hiểu nỗ lực của bệnh viện (BV) Birmingham and Women’s (trực thuộc ĐH Y Harvard) trong việc nâng tỉ lệ tuân thủ Vệ Sinh Tay (VST) từ 40 lên 70%. Họ đã đạt được kết quả này bằng cách thay thế việc rửa tay bằng xà phòng kháng khuẩn với việc sử dụng dung dịch gel cồn. Tuy nhiên, với mức không tuân thủ VST 30%, vẫn còn quá nhiều cơ hội cho vi khuẩn phát tán trong BV. Vì vậy, phòng Kiểm Soát Nhiễm Khuẩn (KSNK) phải trở thành những ‘cảnh sát’ bất đắc dĩ.

17039341_10155030057530883_5657143688868513111_o

Cô Yokoe ở khoa KSNK thu thập số liệu mỗi ngày về nhiễm trùng BV. Khi tôi nói chuyện với cô ấy, trong số 700 bệnh nhân (BN) nằm viện ngày hôm đó có 63 người bị nhiễm trùng MRSA (methicillin-resistant Staphylococcus aureus, Tụ cầu khuẩn vàng kháng Methicillin) và 23 người nhiễm VRE (vancomycin-resistant Enterococcus, Khuẩn cầu ruột kháng vancomycin). Đáng buồn thay, đây là những con số nhiễm trùng cơ hội quá quen thuộc với các BV ở Mỹ.

17239952_10155030056795883_538894104197908418_o

Việc lây nhiễm ‘vi khuẩn siêu kháng thuốc’ (superresistant bacteria) đã trở thành chuyện hằng ngày ở mỗi BV khắp thế giới. Dịch bệnh VRE đầu tiên chỉ xuất hiện năm 1988 tại một khoa chạy thận của nước Anh. Nhưng đến năm 1990, nó đã ‘xuất ngoại’ và trong 1.000 BN hồi sức tích cực ở Mỹ thì có 4 người bị nhiễm (tỉ lệ 0.4%). Bảy năm sau (1997) con số này tăng hơn 50 chục lần, lên đến 23% BN hồi sức tích cực bị nhiễm VRE.

Trong một thế giới ngày càng kết nối, tốc độ lan truyền của dịch bệnh cũng ngày càng tăng. Khi virus SARS (Severe acute respiratory syndrome, Hội chứng hô hấp cấp tính nặng) mới xuất hiện tại Trung Quốc năm 2003, nó chỉ mất vài tuần để lây nhiễm gần 10.000 người ở hơn 24 nước (với tỉ lệ tử vong 10%). Và con đường lây nhiễm chủ yếu của SARS là những bàn tay của người làm y tế. Việc gì sẽ xảy ra nếu mà (chính xác hơn là, khi mà) một dịch bệnh nguy hiểm hơn nữa xuất hiện – cúm gia cầm, hay một loại vi khuẩn có độc tính cao? “Đó sẽ là một thảm hoạ,” cô Yokoe nói.

 

Dường như cách duy nhất để đối phó với những cơn sóng thần nhiễm trùng trong BV này là tất cả mọi nhân viên y tế (NVYT) phải trở thành ‘fan cuồng’ của việc VST như BS. Semmelweis (cha đẻ của VST thời thế kỷ 19 mà chúng ta đã làm quen trong bài số 2).

Để đối phó với thách thức này, hai cô Yokoe, Mario và các đồng nghiệp tại khoa KSNK bắt đầu đi kiểm tra VST đột xuất các khoa trong BV. Ở khoa ngoại chăm sóc đặc biệt (surgical ICU) họ chỉ cho tôi cách họ làm việc. Họ vào khoa mà không báo trước, đi thẳng vào phòng BN, kiểm tra xem có vết đổ nào dưới sàn nhà mà chưa được lau, toilet mà chưa được vệ sinh, vòi nước mà khoá không chặt, bình bơm gel cồn mà hết dung dịch, hộp chứa kim tiêm rác mà đầy ứ, hoặc tủ chứa mà không có đủ găng tay và áo choàng vô trùng. Họ kiểm tra xem các điều dưỡng có đeo găng tay khi thay băng vết thương cho bệnh nhân hay thay dây truyền dẫn cát-te (catheter) hay không, vì đây là ‘cổng vào’ của các bệnh nhiễm trùng. Và đương nhiên, họ liên tục theo dõi xem mọi người có VST sau mỗi tương tác với BN hay không.

Trong quá trình giám sát và kiểm tra này, hai cô sẵn sàng ’truy’ mọi người trong khoa về các quy định KSNK. Tuy nhiên, học từ thất bại của BS. Semmelweis nóng tính, họ cố gắng tiếp cận mọi NVYT một cách nhẹ nhàng. (“Anh/chị quên dùng gel à?” là một câu hỏi họ thường dùng.)

NVYT trong BV dần dần trở nên rất cảnh giác với các chuyến thăm đột xuất của hai cô chuyên gia KNSK này. Có lần tôi thấy một cô điều dưỡng đeo găng và mặc áo choàng đi ra từ phòng BN và cầm hồ sơ bệnh án lên (trái với qui định vì tay bẩn thì không được đụng vào hồ sơ giấy tờ). Khi thấy cô Marino, cô điều dưỡng giật bắn mình và la lên “Tôi thề! Tôi không có đụng vào thứ gì trong phòng cả. Tay tôi sạch mà!”.

Hai cô Yokoe và Marino rất ghét phần này trong công việc của mình. Hai cô không muốn trở thành ‘Cảnh Sát KNSK’. Làm việc đó chẳng có vui vẻ gì, mà lại chẳng hiệu quả là mấy. Với 12 tầng trong BV và 4 nhóm phòng BN mỗi tầng, hai cô không thể làm như BS. Semmelweis thời thế kỷ 19 – đứng canh chừng mọi người cạnh vòi rửa tay duy nhất trong BV và cuối cùng là bị mọi nhân viên trong BV phản đối.

17264853_10155030056385883_7679981569861439873_n

Nhưng không làm như vậy thì còn cách nào để khiến NVYT chuyên cần hơn trong việc VST? Tôi nghiên cứu hai tạp chí chuyên ngành KNSK (Journal of Hospital Infection và Infection Control and Hospital Epidemiology) và thấy trải dài qua nhiều năm là những câu chuyện đáng buồn và thử nghiệm thất bại trong việc thay đổi thói quen của NVYT. Giải pháp có nhiều hi vọng nhất là một loại xà phòng hay dung dịch rửa tay mà có tác dụng giữ cho tay vô trùng trong hàng tiếng đồng hồ sau khi dùng, để NVYT chúng tôi dễ VST hơn. Tuy nhiên, chưa ai tìm ra được hoá chất đó.

Tình hình lây nhiễm trong BV dường như vô vọng đến mức mà một chuyên gia KSNK đề nghị – nửa đùa nửa thật – rằng giải pháp tốt nhất là cấm NVYT chạm vào người BN và vì vậy cũng không cần VST nữa.

Chúng ta thường bị quyến rũ bởi sự hứa hẹn của một lời giải đơn giản, một thay đổi dễ dàng để ‘hô biến mất’ vấn đề mà chúng ta đang gặp phải. Nhưng hiếm có thứ gì trên đời lại chiều lòng người như vậy. Thay vào đó, thành công (đặc biệt là trong ngành y tế) đòi hỏi chúng ta phải làm đúng cả trăm thứ – hoàn hảo trong từng bước một, không được sai sót, không được ‘ăn may’, ngày qua ngày, mọi người cùng tham gia đóng góp. Một sai biến nhỏ có thể khiến bao nhiêu công sức ‘đổ sông đổ biển’. Sau ca giải phẫu thành công, chỉ một lần NVYT quên VST có thể dẫn đến bệnh nhân tử vong do nhiễm trùng khi hồi sức.

Xã hội thường nghĩ về nghề y như một công việc cô độc và trí tuệ – một chuyên gia, dùng kiến thức và kinh nghiệm của mình để xử lý những căn bệnh hóc búa. Nhưng trong thực tế, bác sĩ ít khi gặp phải các ca chẩn đoán bệnh khó – mà đa phần sự thành công của ngành y tế tuỳ thuộc vào những thứ tưởng chừng đơn giản, như là: làm sao để TẤT CẢ MỌI NGƯỜI rửa tay đều đặn.

Qua bốn bài viết vừa qua, chúng ta đã thấy vấn đề VST quan trọng và khó khăn đến mức nào. Đọc bài viết của GS. Atul Gawande, mình càng thông cảm hơn những khó khăn của người làm KSNK trong BV – đặc biệt là ở Việt Nam – đối mặt với những vi khuẩn ngày càng kháng thuốc, thiếu thốn về công nghệ và vật tư; đồng thời cả sự thiếu hợp tác của các đồng nghiệp của mình.

Các bạn làm KSNK trong CLB ơi. Các bạn có phải đóng vai trò “cảnh sát rửa tay” trong BV của mình không?

Việc thay đổi thói quen và hành vi của NVYT về VST tuy khó, nhưng không phải là vô vọng. Trong các bài viết sau, chúng ta sẽ đến với các giải pháp cho vấn đề VST mà GS. Atul Gawande chia sẻ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s