BLYT – Bài 2: Chính Sách Y Tế Thất Bại của Trung Quốc

Xem Các Bài Trước

Trong bài 1, chúng ta đã tìm hiểu về “Sự Cố Cáp Nhĩ Tân” ở Trung Quốc năm 2012. Luật Sư Vệ bào chữa cho cậu bé 17 tuổi Lý Mộng Nam nói rằng: tuy không ai có thể tha thứ việc cậu đâm chết Bác Sĩ (BS) Vương Hạo, nhưng Nam cũng là một nạn nhân của hệ thống y khoa yếu kém – chạy theo đồng tiền và giày vò bệnh nhân (BN). Hôm nay chúng ta sẽ đi ngược dòng lịch sử để hiểu tại sao ngành y tế của Trung Quốc lại khủng hoảng như vậy.

bian-que
Biển Thước, tên thật là Tần Hoãn tự Việt Nhân, vốn người châu Mạc, Bột Hải (nay là huyện Nhiệm Khâu, tỉnh Hà Bắc – thời Chiến quốc thuộc nước Triệu). Ông sinh khoảng năm 401 trước Công Nguyên, mất năm 310 trước Công nguyên, thọ hơn 90 tuổi.

Xung Đột Giữa Bệnh Nhân và Bác Sĩ Trong Đông Y

Một trong những BS đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa là Biển Thước (扁䳍). Tài chữa bệnh của ông được kể lại qua sách xưa, như truyền thuyết về khả năng nhìn xuyên thấu cơ thể BN và làm người chết sống lại. Tuy nhiên ông lại không được ân sủng trong thời của mình: Khi ông chẩn đoán là vua nước Triệu mắc bệnh, nhà vua không tin và đuổi ông đi vì nghĩ ông muốn chế ra bệnh để kiếm tiền. Vài ngày sau thì vua qua đời.

SC164755
Hoa Đà một vị lương y nổi tiếng thời Đông Hán trong lịch sử Trung Hoa, được xem như thần y. Ông được xem là một trong những ông tổ của Đông Y. Ông sống cuối thời Đông Hán, thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên. Theo tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung thì Hoa Đà đã chữa bệnh cho Quan Vũ bằng cách mổ vai để nạo chất độc do mũi tên đâm vào trong lúc Quan Vũ vẫn bình thản đánh cờ vây (xem hình). Hoa Đà được cho là đã biết áp dụng kỹ thuật gây mê bằng một hỗn hợp rượu và thảo dược được gọi là ma phí tán (麻沸散), 1600 năm trước khi người phương Tây biết áp dụng kỹ thuật này trong phẫu thuật.

Hoa Đà (華佗), một bác sĩ giải phẫu sống vào thế kỷ thứ 2, khuyên một vị tướng (Tào Tháo) nên mổ sọ để cạo chất độc đã nghi Hoa Đà muốn giết mình nên tống ông vào ngục và khép vào tội chết. Đây là một ví dụ rất sớm về hành vi bạo lực của BN đối với BS ở Trung Hoa.

Tuy Trung Quốc có truyền thống y khoa lâu đời, người làm ngành y thường không được kính trọng. Theo hệ tư tưởng Khổng Giáo thì mỗi học sĩ đều phải biết đủ về y thuật để tự chăm sóc gia đình của mình, và vì vậy ngay cả những người BS giỏi nhất cũng có vai vế thấp trong xã hội. Học giả y khoa đời nhà Thanh, Nhất Dương Tử (Xu Yanzuo) coi thường trình độ giới y sĩ nói chung đến mức ông đã viết: “Hiếm khi con người chết vì bệnh tật. Thường thì họ chết vì uống thuốc.”

Những kĩ thuật y khoa hiện đại, tiến hoá từ Châu Âu và Bắc Mỹ vào thế kỷ 19, du nhập khá chậm vào Trung Hoa. Đến tận thế kỷ 20, BS Trung Quốc tiếp tục áp dụng kết hợp Đông Y và Tây Y. Và chỉ đến khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc lên nắm quyền năm 1949 thì chính phủ mới bắt đầu nhận trách nhiệm cung cấp dịch vụ y tế cho người dân. Khi đó, chính phủ tập trung vào vấn đề y tế công cộng – phổ cập vaccin, cải thiện vệ sinh môi trường, và Mao Trạch Đông đưa ra chiết dịch “Tứ Hại” (Four Pests) – muỗi, ruồi nhặng, chuột và chim sẻ.

pc-1958-025.jpg
Năm 1955, Mao Trạch Đông cùng với 14 vị bí thư tỉnh ủy đã viết bản “Cương lĩnh phát triển nông nghiệp toàn quốc”, trong đó điều 27 quy định: “Phải trừ tứ hại. Bắt đầu từ năm 1956, lần lượt trong vòng 5 năm, 7 năm hoặc 12 năm, tại tất cả các địa phương có thể, về cơ bản phải tiêu diệt hết chuột, chim sẻ, ruồi nhặng và muỗi”.

Kể Thêm về Chiến Dịch Diệt Chim Sẻ

d0dcd2ddd5af4c0961d4324a492.jpg
Poster kêu gọi diệt chim sẻ

Chiến dịch được Mao Trạch Đông, chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phát động. Chim sẻ bị liệt kê vào trong danh sách vì chúng ăn hạt thóc lúa, gây thiệt hại cho nông nghiệp. Theo quyết định thì tất cả các nông dân tại Trung Quốc nên đập gõ nồi, niêu và rượt đuổi chim sẻ khiến chúng sợ sệt bay đi. Ổ chim sẻ bị phá, trứng bị đập vỡ, các chim con trong tổ bị giết chết. Mùa vụ năm sau được khá hơn năm trước vì không còn chim sẻ, nhưng họ đã quên đi một sự thật là chim sẻ ăn châu chấu. Châu chấu tràn ngập vùng miền quê sau đó phá nát mùa màng và kéo theo sau là một nạn đói xảy ra tại Trung Quốc.

Tháng tư năm 1960 Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (United States National Academy of Sciences) nêu lên vấn đề là chim sẻ ăn côn trùng nhiều hơn là ăn hạt thóc. Mao Trạch Đông chỉ nói là “hãy quên nó đi”, và ra lệnh ngưng diệt chim sẻ. Vào lúc đó thì quá trễ vì số lượng châu chấu đã bùng nổ ngoài tầm kiểm soát. Từ năm 1959 đến 1961, ước lượng có đến 30 triệu người chết đói trong nạn đói lớn ở Trung Quốc. (Theo Wikipedia)

Đội Quân Bác Sĩ

Năm 1965, trước thêm Cách Mạng Văn Hoá, Đảng Cộng Sản Trung Quốc tuyên bố chính sách sẽ cấp cho mỗi hợp tác xã một nhân viên y tế có qua đào tạo – chăm sóc y tế bán thời gian, và tham gia sản xuất thời gian còn lại. Đội quân này được gọi là “bác sĩ chân đất” (barefoot doctors), và đa phần là nông dân – với một số ít người trẻ từ thành thị.

DSC_4075
Poster về hình tượng người “BS chân đất”

Theo tiêu chuẩn phương Tây thì những “bác sĩ” này không phải là nhân viên y tế chuyên nghiệp. Tuy nhiên, hệ thống này ít nhất đã cho người dân quê Trung Quốc được tiếp cận với việc chăm sóc y tế cơ bản nhất. Sau mười năm áp dụng, chương trình này đã nâng tuổi thọ trung bình của dân Trung Quốc từ 51 lên đến 65.

 

barefoot-doctors-in-maoist-china1
BS Chân Đất chữa bệnh ở hợp tác xã

Một vài người trong số các “bác sĩ chân đất” này tiếp tục có sự nghiệp thành công trong ngành y khoa. Ví dụ như BS Gordon Lưu mà tôi gặp ở Đại Học Bắc Kinh, nơi ông là giám đốc của Trung Tâm Nghiên Cứu Kinh Tế Y Tế (Health Economices) Trung Quốc. Văn phòng của BS Lưu nằm trong môt toà nhà có thời nhà Thanh, trang trí rực rỡ – một bên nhìn ra sân vườn, còn bên kia nhìn ra con sông. “Tôi có vị trí đẹp nhất ở đây,” ông nói với một nụ cười lớn. Giáo Sư Lưu đã dành hầu hết sự nghiệp của mình ở Mỹ. Ông mặc quần thun Nike và áo phông hiệu Boss. GS. Lưu nói chuyện với sự tự tin dễ dàng của một người thầy quen dạy học. Mỗi khi tôi đặt câu hỏi, ông tạm dừng và nói “O.K.” trước khi bắt đầu lại từ đầu, như thể tôi là một sinh viên đã ngắt lời của ông.

Gordon
Tiểu Sử GS. Gordon Lưu tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới

GS. Lưu lớn lên ở miền quê tỉnh Tứ Xuyên. Và như hầu hết những người thanh niên thời Cách Mạng Văn Hoá, ông được cho đi làm việc ở hợp tác xã sau khi học xong trung học. Ông vẫn nhớ việc phải thức dậy 6 giờ sáng mỗi ngày để đi gieo hạt ngô, trên những mảnh đất hoàn toàn không phù hợp cho việc trồng ngô. “Ngày nào chúng tôi cũng phải làm những công việc vô ích đó”, ông nói. Một ngày kia, vị lãnh đạo hợp tác xã gọi ông lại và nói ông sẽ trở thành BS của làng. Chứng chỉ hành nghề của ông: đó là tấm bằng tốt nghiệp trung học.

“Tôi hoàn toàn không biết gì về y khoa”, GS. Lưu nói với tôi. “Tôi cứ bắt đầu chữa bệnh cho người dân của hợp tác xã [dựa vào cuốn sổ tay y khoa của chính phủ]. Tôi không biết bao nhiêu người đã bệnh nặng hơn từ việc “điều trị” của tôi. Liệu có bao nhiêu người chết. Tôi hoàn toàn không biết.” Tuy vậy, các “BS chân đất” được người dân tôn trọng và người dân nói chung không than phiền gì về chất lượng dịch vụ y tế. “Thời đó, con người ta tranh giành nhau từng cốc nước, chén cơm,” GS. Lưu nói, “Y tế là một thứ xa xỉ mà chẳng ai dám mơ tới.”

Hệ Thống Y Tế Sụp Đổ

Sau khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976, Trung Quốc mở cửa lại các trường đại học, và GS. Lưu đi học cử nhân ở Thành Đô. Năm 1986, ông đến Đại Học Thành Phố New York để học cao học kinh tế học y tế, và ở lại Hoa Kỳ giảng dạy. Trong khi đó, hệ thống y tế Trung Quốc bắt đầu sụp đổ.

images (2).jpeg
Tổng Bí Thư Đặng Tiểu Bình

Tổng Bí Thư Đặng Tiểu Bình áp dụng chính sách mở cửa kinh tế, và giải tán các hợp tác xã – điểm dựa về y tế của đa số người dân Trung Quốc. Tuy việc buông lỏng quản lý đã tạo điều kiện cho nhiều thành phần của nền kinh tế – như sản xuất và bất động sản – phát triển, chính sách này đã kiến hệ thống y tế bị kiệt quệ.

Nhà nước không còn chịu trách nhiệm cho dịch vụ y tế. Các BV công trở nên “độc lập tài chính” và bắt đầu chạy đua theo lợi nhuận. Các BS vốn được trả lương thấp, và nhiều người bắt đầu nhận hối lộ – những phong bì tiền “lì xì” đỏ.

Trong hệ thống trước đây, các BS được đào tạo bài bản ở thành phố lớn phải đến miền quê để hỗ trợ các “BS chân đất” ở hợp tác xã. Còn ngày nay thì những người nông dân phải tràn về các thành thị để chữa bệnh – khiến cho các BV lớn trở nên quá tải. GS. Lưu nói “Về cơ bản thì nhà nước đã cho ngành y tế xếp xó.”

 

BN Chờ Khám Bệnh ở Trung Quốc

Đến đầu thế kỷ 21, tất cả mọi người dân Trung Quốc – từ BN đến BS và lãnh đạo chính phủ đều đồng thuận rằng hệ thống y tế đã sụp đổ. Và cơn đại dịch SARS năm 2002, xuất phát từ các tỉnh phía nam Trung Quốc, khiến cho cơn khủng hoảng còn trầm trọng hơn.

 

Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) tại Trung Quốc

Năm 2003, chính phủ Trung Quốc thành lập hệ thống bảo hiểm y tế (BHYT) cho mọi người sống ở vùng nông thôn, và năm 2007 thì hệ thống BHYT bao gồm cả dân thành thị. Năm 2002 GS. Lưu, lúc đó đang dạy ở ĐH Chapel Hill Bắc Carolina, nhận được cú điện thoại mời ông về Đại Học Bắc Kinh để thành lập Khoa Quản Lý và Kinh Tế Học Y Tế. Ông đồng ý ngay lập tức. “Đó là giấc mơ của tôi,” ông kể.

Bệnh Viện Quá Tải

Ở Bắc Kinh, GS. Lưu bắt đầu tư vấn cho Hội Đồng Nhà Nước, cơ quan điều hành chính phủ cao nhất Trung Quốc – chịu trách nhiệm viết dự thảo luật và đưa ra các chính sách quốc gia. Năm 2009, Hội Đồng tuyên bố gói cải tiến bao gồm năm mục:

  1. Bảo hiểm y tế toàn dân trước năm 2020
  2. Giảm chi phí các dược phẩm thiết yếu
  3. Tăng cường dịch vụ y tế cộng đồng như giáo dục và tiêm chủng – đặc biệt là ở các vùng nghèo
  4. Đầu tư mở rộng và xây mới BV tại nông thôn để giảm áp lưc cho các BV thành thị,
  5. Tái cơ cấu các BV công lớn để tập trung vào chăm sóc cấp cứu và chuyên khoa [thay vì chăm sóc các bệnh thông thường]

GS. Lưu nói mục thứ 5 là khó khăn nhất, bởi vì chính sách này bao gồm việc lấy mất khách hàng của các BV công lớn. “Các BV sẽ không bao giờ tự nguyện làm việc này, trừ khi là chúng ta thực hiện cải cách một cách thật tỉ mỉ.”

hospital_0.jpg
Tiếp bệnh nhân tại một BV thành thị lớn ở Trung Quốc

Chính sách cải cách này thành bại không rõ ràng. Các quan chức tự hào tuyên bố là 95% dân số Trung Quốc nay đã được tiếp cận BHYT, tăng từ mức 30% hồi 2003. Tuy nhiên trong cùng lúc này thì giá cả y tế cũng tăng phi mã. Vì vậy trong thực tế thì đa số BN vẫn phải cùng một số tiền như trước.

Thêm vào đó, như kinh nghiệm của cậu bé Lý Mộng Nam, phần trăm chi phí được BHYT chi trả biến thiên rất nhiều, tuỳ địa phương. Áp lực bệnh nhân đến các BV thành thị lớn thì không giảm, mà còn tăng. Bởi vì người dân mới có BHYT bắt đầu đổ vào BV, mà các cơ sở y tế ở nông thôn thì chưa xây kịp.

GS. Hoàng Giang Hồng, nhà nghiên cứu hệ thống y tế Trung Quốc tại Đại Học Seton Hall nói với tôi rằng: Các sự kiện bạo lực cho thấy các chính sách cải cách của chính phủ Trung Quốc đã thất bại trong việc giải quyết vấn đề khả năng chi trả (affordability) và khả năng truy cập (access) y tế của người dân.

Bệnh nhân vẫn kỳ vọng dịch vụ chăm sóc tốt nhất khi họ [đi từ rất xa] để đến các BV lớn ở thành thị. “Khi những kỳ vọng này không được đáp ứng, thì họ trở nên rất phẫn nộ!”, GS. Hoàng nói.

HẾT BÀI 2

Mời các bạn đón đọc Bài 3: Một vụ giết người và 4.012 nụ cười 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s